Gia Công Mài và Cắt Dây: So Sánh Tính Toàn Vẹn Bề Mặt và Tuổi Thọ Chày Cối

1. Độ nhám bề mặt có quyết định tuổi thọ chày cối?

Khái niệm tính toàn vẹn bề mặt (surface integrity) ra đời từ ngành hàng không những năm 1960, khi người ta phát hiện các chi tiết đạt mọi yêu cầu hình học vẫn hỏng do mỏi. Nó mô tả trạng thái của lớp vật liệu sát bề mặt, gồm bốn nhóm đặc trưng, trong đó chỉ nhóm đầu tiên là thứ mà thiết bị đo độ nhám nhìn thấy:

Cả 3 yếu tố sau đều không thể đo bằng máy đo độ nhám Ra nhưng lại quyết định trực tiếp đến khả năng chống nứt mỏi của chày cối khuôn dập. Vì vậy một chi tiết có thể đạt kích thước và Ra nhưng vẫn có tuổi thọ thấp hơn rõ rệt nếu trạng thái lớp dưới bề mặt không phù hợp.

2. Ảnh hưởng của gia công cắt dây đến bề mặt

Quá trình gia công cắt dây tia lửa điện (wire electrical discharge machining – WEDM) bóc vật liệu bằng chuỗi phóng điện rời rạc giữa dây và phôi. Mỗi xung tạo một kênh plasma cục bộ, nung chảy và bốc hơi một thể tích rất nhỏ vật liệu. Dielectric ngay lập tức dập tắt kênh plasma và làm nguội vùng đó với tốc độ cực lớn (từ 10⁵ đến 10⁶ K/s). Phần kim loại nóng chảy nào không kịp bị dòng dielectric cuốn đi sẽ đông đặc ngay tại chỗ.

Kết quả của quá trình cắt dây EDM là 3 lớp chồng lên nhau: 

be-mat-sau-gia-cong-cat-day-va-gia-cong-mai

2.1. Lớp tái đúc

Lớp tái đúc (recast layer/ lớp trắng) hình thành do kim loại bị nóng chảy rồi đông đặc cực nhanh tại chỗ sau khi phóng điện cắt dây. Lớp này bị biến đổi hoàn toàn so với vật liệu gốc, có các đặc điểm sau:

Chiều dày lớp tái đúc phụ thuộc trực tiếp vào năng lượng xungchiến lược cắtCao và cộng sự đo trên hai chi tiết thép công cụ S390 và SKD11, ghi nhận lớp trắng dày 24,7 µm khi chỉ cắt một lát và giảm còn 12,9 µm trong quy trình nhiều lát [4]. Đây là số đo trên hai vật liệu, trong điều kiện thí nghiệm; giá trị thực tế còn phụ thuộc chiều dày phôi, loại dây, dielectric và thế hệ bộ phát xung, nên không dùng làm giá trị nghiệm thu chung.

2.2. Vùng ảnh hưởng nhiệt (HAZ)

Nằm ngay dưới lớp tái đúc, là phần vật liệu không nóng chảy nhưng đã chịu chu trình nhiệt đủ mạnh để thay đổi tổ chức và độ cứng. Với cắt dây, vùng này thường dày vài chục micromet, khó nhìn thấy hơn lớp tái đúc và cũng khó bỏ đi hơn. Mài bỏ lớp tái đúc không có nghĩa là đã bỏ hết vùng ảnh hưởng nhiệt.

2.3. Ứng suất dư kéo và giải pháp lát cắt tinh

Trong gia công cắt dây EDM, nhiệt độ cục bộ cao làm vật liệu giãn nở rồi co lại đột ngột, hình thành ứng suất dư kéo (Tensile Residual Stress) tiệm cận giới hạn chảy của thép.

Với chế độ cắt thô, các nghiên cứu trên nhiều nhóm vật liệu ghi nhận ứng suất kéo bề mặt có thể đạt tới mức tiệm cận giới hạn chảy của vật liệu; giá trị cụ thể phụ thuộc vật liệu và chế độ nên không nên đưa ra một con số duy nhất. Khi ứng suất kéo vượt độ bền của lớp tái đúc giòn, vi nứt (microcracks) hình thành ngay trên bề mặt. Đây là nguyên nhân gây nứt gãy chày cối. 

Phương án xử lý chính là "lát cắt tinh" (trim pass, skim cut). Mỗi lát tinh chạy với năng lượng xung thấp hơn và lượng bóc nhỏ hơn, bóc đi chính lớp hỏng do lát trước để lại. Klink, Guo và Klocke theo dõi diễn biến tính toàn vẹn bề mặt của thép công cụ luyện kim bột từ lát chính qua các lát tinh và ghi nhận cùng một chiều biến thiên [11]. Các nghiên cứu về bộ phát xung tinh cũng cho thấy lát tinh năng lượng thấp cải thiện rõ rệt độ nhám và giảm mạnh lớp tái đúc [2].

Cao và cộng sự theo dõi diễn biến từ lát chính qua lát tinh thứ nhất tới lát tinh thứ tư và ghi nhận ba đại lượng cùng giảm theo số lát: độ nhám bề mặt, chiều dày lớp trắng và ứng suất dư; các khuyết tật bề mặt gồm hố phóng điện, vi nứt, rỗ và mạt bám cũng giảm theo [4]. Giá trị dung sai và độ nhám đạt được ở mỗi bậc lát cắt phụ thuộc máy, vật liệu và bộ phát xung, nên cần lấy theo bảng công nghệ của chính máy đang dùng.

tac-dung-lat-cat-tinh-trong-xu-ly-be-mat

Chúng ta cần lưu ý rằng: lát cắt tinh làm mỏng lớp tái đúc nhưng không xóa hết nó. Tài liệu kỹ thuật của ngành thép công cụ nêu rằng muốn loại bỏ hoàn toàn lớp trắng thì phải bóc nó đi bằng mài, đá hoặc đánh bóng [6]; đây là kết quả của tài liệu nghiên cứu, nên dùng như hướng dẫn thực hành.

3. Ảnh hưởng của gia công mài đến bề mặt

Gia công mài bóc vật liệu bằng hàng nghìn hạt mài có góc trước âm rất lớn (highly negative rake angle). Trạng thái lớp bề mặt sau mài là kết quả của sự tác động cơ học và nhiệt học.

be-mat-sau-gia-cong-cat-day-va-gia-cong-mai

3.1. Tác động cơ học sinh ứng suất nén

Hạt mài cày lên bề mặt gây biến dạng dẻo lớp mỏng sát ngoài. Lớp này bị nền phía dưới cản trở nên sau khi tải rời đi có thể nằm trong trạng thái ứng suất dư nén (compressive residual stress).

Trạng thái này giúp ngăn chặn sự phát triển của vết nứt mỏi, kéo dài tuổi thọ chày cối. Điều kiện là là quá trình mài được thực hiện đúng kỹ thuật để tránh sinh nhiệt quá mức và duy trì trạng thái nén ổn định ở lớp bề mặt.

3.2. Tác động nhiệt sinh ứng suất kéo

Ngược lại, nhiệt sinh ra ở vùng tiếp xúc làm lớp bề mặt giãn nở trong khi bị nền lạnh giữ lại. Vì giới hạn chảy giảm mạnh theo nhiệt độ, ứng suất này có thể vượt giới hạn chảy và gây biến dạng dẻo do nhiệt. Khi nguội, lớp đã giãn co lại và để lại ứng suất dư kéo [1].Nghiên cứu của Balart và cộng sự trên bốn loại thép — En9, En31, AISI M2 và CPM 10V — xác định được ngưỡng nhiệt độ bề mặt mà từ đó ứng suất kéo bắt đầu xuất hiện: khoảng 200 °C với En9 và En31, 500 °C với M2, và 600 °C với CPM 10V [1]. Con số này quan trọng vì một lý do thực tế:

3.3. Tác động sinh nhiệt gây cháy mài

Khi ma sát sinh nhiệt quá lớn mà tản nhiệt không kịp, nhiệt độ bề mặt vượt ngưỡng (200°C với thép carbon, 500–600°C với thép gió/thép hợp kim) sẽ sinh ra ứng suất dư kéo. Đáng chú ý, ứng suất kéo xuất hiện ở nhiệt độ thấp hơn nhiều so với nhiệt độ làm đổi màu bề mặt (cháy mài nhìn thấy được)

Nếu nhiệt độ tiếp tục tăng, hai dạng cháy mài sẽ xảy ra:

Nghiên cứu trên thép khuôn nguội AISI D2 cho thấy hướng dịch chuyển rất rõ ràng: tăng chiều sâu cắt, tăng tốc độ đá hoặc tăng tốc độ phôi đều đẩy trạng thái từ nén sang kéo; ngược lại, đá có hạt mài mịn hơn có xu hướng tạo ứng suất nén [3].

4. Phân biệt "lớp trắng" sau gia công cắt dây và sau cháy mài

Cả bề mặt sau gia công cắt dây và mài quá nhiệt đều có thể xuất hiện một lớp không bị dung dịch tẩm thực ăn mòn, hiện lên lớp trắng dưới kính hiển vi. 

Điểm chung về mặt kỹ thuật là cả hai loại lớp trắng đều có thể làm lớp sát bề mặt cứng/ giòn hơn hoặc không đồng nhất hơn nền và làm tăng nguy cơ khởi phát nứt. Nhưng cơ chế, cấu trúc và hiện tượng của chúng khác nhau.

lop-trang-sau-cat-day-EDM-va-sau-chay-mai

5. Tại sao độ nhám bề mặt và tuổi thọ mỏi không tỷ lệ thuận?

Nếu chỉ có một số liệu để mang vào cuộc họp kỹ thuật, hãy dùng số liệu này. Beck và cộng sự đã so sánh trực tiếp mẫu mài và mẫu cắt dây trên hợp kim TiNi: mẫu mài đạt giới hạn mỏi 390 MPa tại 1,2×10⁷ chu kỳ. Mẫu cắt dây tinh thấp hơn 21% và mẫu cắt dây thô thấp hơn 57%, mặc dù bề mặt cắt dây tinh có độ nhám thấp hơn đáng kể so với mẫu mài. Nhóm tác giả quy nguyên nhân cho ứng suất dư kéo sau cắt dây [8].

nghien-cuu-ve-gioi-han-moi-va-do-nhan-be-mat-cat-day-EDM-va-mai

Vật liệu khác sẽ cho tỷ lệ khác, nhưng chiều của kết luận nhất quán trong y văn: khi các yếu tố khác tương đương, bề mặt mang ứng suất dư kéo có tuổi thọ mỏi thấp hơn bề mặt mang ứng suất nén. Cần nói rõ phạm vi: ứng suất dư là một trong những biến tính toàn vẹn bề mặt có ảnh hưởng lớn tới giai đoạn khởi phát nứt, không phải biến duy nhất quyết định tuổi thọ.

Tuổi thọ chày còn phụ thuộc độ dai và độ sạch của vật liệu, phân bố cacbit, độ cứng, khe hở, dẫn hướng và độ đồng tâm, cách chuẩn bị cạnh cắt, lớp phủ, bôi trơn và phổ tải thực tế. Và đây chính là cầu nối tới cơ chế hỏng thực tế của chày cối: mỏi và mẻ cạnh. Hai cơ chế này đã được chúng tôi mô tả trong bài về mòn chày cối: chày vẫn cắt đẹp cho tới nhịp cuối cùng rồi gãy đột ngột.

ung-suat-du-theo-chieu-sau

6. Gia công cắt dây WEDM chi tiết hợp kim cứng

Với chày cối hợp kim cứng WC-Co, so sánh gia công mài và cắt dây có thêm một biến số mà thép không có: sự ổn định của nền coban.

Hợp kim cứng không phải kim loại đồng nhất mà là composite: hạt carbide vonfram liên kết bằng nền coban. Khi gia công cắt dây trong nước khử ion, phản ứng điện hóa giữa nước và nền coban làm coban bị hòa tan dần khỏi lớp bề mặt. Hiện tượng này gọi là thoát coban (cobalt depletion, cobalt leaching). Hạt WC sẽ mất chất liên kết trở nên lỏng lẻo; bề mặt suy yếu, dễ bong hạt, dễ mẻ cạnh và mòn nhanh dù độ cứng đo được vẫn cao [9], [10].

cat-day-EDM-hop-kim-cung-trong-nuoc-va-trong-dau

Để khắc phục tình trạng thoát coban, kỹ sư có thể thực hiện 3 phương án gợi ý như sau:

Mài hợp kim cứng bằng đá kim cương không gây thoát coban, nhưng không phải vì thế mà không ảnh hưởng tới bề mặt: lực mài và nhiệt mài quá lớn vẫn gây nứt tế vi trên vật liệu vốn rất giòn, và với biên dạng phức tạp thì mài đơn thuần nhiều khi không khả thi về mặt hình học.

Đáng chú ý, y văn không kết luận “mài luôn tốt hơn”. Lauwers, Kruth và Eeraerts đã so sánh tám chất lượng bề mặt khác nhau của chày hợp kim cứng, gồm: 6 mẫu cắt dây trải rộng về kết cấu và tính toàn vẹn bề mặt, 2 mẫu mài, thử trên máy dập công nghiệp. Đo chiều cao bavia trên sản phẩm dập không cho thấy ảnh hưởng đáng kể của phương pháp chế tạo. Phân tích bề mặt chày sau một triệu nhịp cho thấy lý do: lớp bề mặt do quá trình chế tạo để lại, dù là EDM hay mài, đã bị bóc đi hoàn toàn ở vùng sát cạnh cắt [7]. Kết quả này thử nghiệm này nhấn mạnh rằng với chày carbide trong điều kiện thử của nghiên cứu, vùng chịu mòn mạnh nhất tự loại bỏ lớp bề mặt ban đầu trong giai đoạn chạy rà. Với chi tiết thép chịu tải chu kỳ và cơ chế hỏng là mỏi chứ là mòn, chúng ta chưa thể đưa ra kết luận tương tự. 

7. Lựa chọn gia công mài hay cắt dây?

Thực tế, đặt câu hỏi “ chọn gia công mài hay cắt dây” dễ khiến kỹ sư đưa ra quyết định sai trong bước gia công. Trong chế tạo chi tiết khuôn chịu tải chu kỳ, hai công nghệ có vai trò khác nhau và bổ sung cho nhau. Cắt dây tạo hình những biên dạng mà mài không với tới được.

Còn trạng thái lớp bề mặt chức năng thì do nguyên công cuối cùng chạm vào bề mặt đó xác lập: nếu quy trình có bước mài hoàn thiện sau cắt dây thì nguyên công mài đó xác lập trạng thái bề mặt; nếu bề mặt cuối là bề mặt cắt dây tinh thì trạng thái đó phụ thuộc trực tiếp vào chiến lược lát tinh và điều kiện cắt dây.

trinh-tu-gia-cong-chi-tiet-khuon-chiu-tai-chu-ky

Có 4 điểm trong trình tự trên nên được thảo luận chi tiết hơn, vì đây là những phần bị bỏ qua nhiều nhất:

8. Phương pháp kiểm tra tính toàn vẹn bề mặt sau gia công mài và cắt dây

Đây là phần nhiều xưởng vẫn kiểm soát chủ yếu qua chế độ công nghệ thay vì đo trực tiếp. Khi làm việc với khách hàng có yêu cầu cao, đặc biệt các chuỗi cung ứng FDI, câu hỏi “bề mặt có thật sự không gặp bất thường?” thường cần một bằng chứng rõ hơn Ra và kích thước.

8.1. Với bề mặt gia công cắt dây

Một phương pháp trực tiếp thường dùng là cắt mẫu kim tương (metallographic cross-section): cắt ngang chi tiết, đúc mẫu, mài, đánh bóng, tẩm thực rồi soi ở độ phóng đại phù hợp. Lớp tái đúc hiện lên khác nền sau chuẩn bị mẫu, cho phép đo chiều dày tại nhiều vị trí và kết hợp với độ cứng tế vi theo chiều sâu.

Nhược điểm của phương pháp này là phá hủy mẫu, nên thường dùng để xác nhận chế độ công nghệ hoặc điều tra lỗi, không phải kiểm tra từng chi tiết.

8.2. Với bề mặt gia công mài

Có ba phương pháp kiểm tra bề mặt sau mài, mỗi phương pháp phát hiện được một điểm khác nhau. Cả tẩm thực nital lẫn nhiễu Barkhausen đều có tiêu chuẩn hoặc thực hành khuyến nghị riêng cho việc phát hiện cháy mài [14], [15]. Ta không nên coi nital là phương pháp duy nhất được tiêu chuẩn hóa:

3-phuong-phap-kiem-tra-be-mat-sau-gia-cong-mai

Các kỹ sư cần chú ý rằng: một nguyên công mài tinh cuối có thể bóc hết lớp bị biến đổi tổ chức trên bề mặt, khiến phép tẩm thực nital cho kết quả tích cực, trong khi hư hại dưới bề mặt và ứng suất kéo vẫn còn nguyên [13]. Bề mặt sạch sau nital không đồng nghĩa với bề mặt sẽ nguyên vẹn.

Với một đơn vị gia công khuôn quy mô vừa ở Việt Nam, chúng tôi không khuyến nghị đầu tư vào thiết bị. Thay vào đó, đơn vị gia công nên cố định chế độ mài và chế độ cắt dây cho từng nhóm chi tiết, ghi lại chế độ đó như một thông số công nghệ được kiểm soát. Bên cạnh đó, kỹ thuật viên cần định kỳ cắt mẫu kim tương để kiểm chứng rằng chế độ đang dùng cho ra lớp bề mặt như mong đợi. Kiểm soát quá trình này sẽ rẻ hơn kiểm tra sản phẩm,và cũng đem lại nhiều lợi ích về mặt kính tế hơn với các xưởng quy mô vừa. 

9. 6 yêu cầu kỹ thuật cần làm rõ khi đặt hàng gia công mài và cắt dây

Không ít tranh chấp giữa nhà máy và nhà cung cấp về tuổi thọ chi tiết, bắt đầu từ việc bản vẽ chỉ quy định kích thước và độ nhám nhưng bỏ trống yêu cầu đối với lớp bề mặt. 6 nội dung dưới đây là những điểm nên cân nhắc bởi chúng thực sự liên quan tới độ hoàn thiện bề mặt và tuổi thọ chày cối:

Chi phí của việc bổ sung 6 nội dung này vào bản vẽ gần như bằng không. Chi phí của việc thiếu chúng là một cuộc tranh luận không có căn cứ kỹ thuật khi bộ chày hỏng sớm hơn dự kiến, mà thường thì không bên nào chứng minh được điều gì.

10. So sánh tổng hợp: Gia công mài và cắt dây EDM

so-sanh-gia-cong-mai-va-cat-day-EDM

Trong bài viết, có ba kết luận đáng chú ý:

Mời thảo luận

Chúng tôi muốn lắng nghe kinh nghiệm thực tế từ những người đang vận hành, vì nội dung này ở Việt Nam gần như không có tài liệu tổng kết:

Bình luận bên dưới hoặc gửi trao đổi trực tiếp qua email; chúng tôi sẽ tổng hợp các phản hồi có giá trị vào một bài cập nhật.

Bài viết do bộ phận kỹ thuật Công ty Cổ phần Công nghệ Khuôn mẫu Ánh Dương biên soạn,
trong chuyên mục Tài liệu kỹ thuật về công nghệ chế tạo chi tiết khuôn.

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *